Thứ Năm, ngày 28 tháng 2 năm 2008

ĐỀ CƯƠNG CHÍNH TRỊ BẬC TRUNG CẤP


ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG
Bài 1: CHỦ NGHĨA DUY VẬT KHOA HỌC
Giáo viên: Trương Hoài Phương.
I. VẬT CHẤT:
1. Bản chất của thế giới:
a. Quan điểm duy tâm về bản chất thế giới:
Bản chất thế giới là ý thức.
- Chủ nghĩa duy tâm khách quan: ý thức (ý niệm, ý niệm tuyệt đối, chúa, thượng đế...) là cơ sở quyết định sự tồn tại của các sự vật, hiện tượng trong thế giới.
- Chủ nghĩa duy tâm chủ quan: ý thức (cảm giác của con người) là cơ sở quyết định sự tồn tại của các sự vật trong thế giới.
b. Quan điểm duy vật về bản chất thế giới:
- Bản chất thế giới là vật chất.
- Trong mối quan hệ giữa vật chất và ý thức thì vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau, vật chất quyết định ý thức, còn ý thức chỉ là sự phản ánh vật chất vào đầu óc con người.
2. Phạm trù vật chất:
a. Quan điểm của các nhà triết học duy vật trước Mác:
Đồng nhất vật chất với vật thể, quy vật chất về một dạng vật thể nào đó.
b. Quan điểm triết học Mác – Lênin về vật chất: (trọng tâm)
Vật chất là một phạm trù triết học, dùng để chỉ thực tại khách quan, được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.
+ “Vật chất là một phạm trù triết học”, có nghĩa là: vật chất không tồn tại cảm tính, không đồng nhất với các dạng tồn tại cụ thể, mà ta thường gọi là vật thể.
+ “Dùng để chỉ thực tại khách quan”, có nghĩa là: thực tại khách quan là thuộc tính chung nhất của vật chất. Vật chất tồn tại bên ngoài, không lệ thuộc vào cảm giác.
+ “Được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”, có nghĩa là: vật chất tồn tại khách quan, nhưng không phải tồn tại trừu tượng, mà tồn tại hiện thực qua các sự vật cụ thể. Khi tác động vào giác quan thì chúng gây nên cảm giác. Từ đó, chứng tỏ con người nhận thức được thế giới.
Ý nghĩa của định nghĩa:
Định nghĩa vật chất của Lênin có ý nghĩa to lớn:
+ Nó đã giải quyết được vấn đề cơ bản của triết học theo lập trường duy vật biện chứng. Khẳng định vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau, vật chất quyết định ý thức, ý thức phản ánh vật chất. Từ đó, chống lại các quan điểm duy tâm, siêu hình, nhị nguyên, bất khả tri… trong quan niệm về vật chất.
+ Nó đã khẳng định: vật chất không chỉ bao gồm dưới dạng tự nhiên mà còn cả dưới dạng xã hội. Qua đó, đã thể hiện sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
+ Nó đã trang bị thế giới quan và phương pháp luận khoa học cho các ngành khoa học cụ thể phát triển, đem lại niềm tin cho con người trong việc nhận thức và cải tạo thế giới.
3. Vận động của vật chất:
a. Định nghĩa vận động:
Vận động là một phương thức tồn tại của vật chất, bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy.
b. Nguồn gốc của vận động:
Nguồn gốc vận động của vật chất là vận động tự thân, do mâu thuẫn bên trong, do tác động qua lại giữa các yếu tố trong cùng một sự vật hay giữa các sự vật với nhau.

c. Những hình thức của vận động:
- Vận động cơ học: là sự di chuyển vị trí của các vật thể trong không gian.
- Vận động lý học: là sự vận động của các phân tử, nguyên tử, các hạt cơ bản, các quá trình cơ, nhiệt, điện…
- Vận động hoá học: là sự vận động của các quá trình hoá hợp và phân giải các chất.
- Vận động sinh học: là sự biến đổi của các cơ thể sống.
- Vận động xã hội: là sự vận động biến đổi các chế độ xã hội, thông qua hoạt động của con người.
* Chú y:
Các hình thức vận động có sự khác nhau về chất, nên không được quy hình thức vận động này vào hình thức vận động khác. Hình thức vận động cao bao hàm hình thức vận động thấp. Hình thức vận động xã hội là cao nhất, nên nó bao hàm mọi hình thức vận động.
d. Vận động và đứng im:
Vận động là tuyệt đối, đứng im là tương đối.
4. Không gian và thời gian:
a. Những quan niệm khác nhau:
- Triết học duy tâm chủ quan: không gian và thời gian là hình thức tri giác chủ quan của con người.
- Triết học duy vật siêu hình: không gian và thời gian chỉ là sự tồn tại trống rỗng, không gắn với vật chất vận động.
b. Quan điểm triết học Mác – Lênin:
- Khái niệm:
+ Không gian: là hình thức tồn tại của vật chất, xét về mặt “quảng tính”.
+ Thời gian: là hình thức tồn tại của vật chất, xét về mặt “trường tính”.
- Quan hệ giữa không gian và thời gian với vật chất vận động:
Không gian và thời gian là hình thức tồn tại của vật chất, thuộc tính cố hữu của vật chất, nên nó gắn liền với vật chất vận động.
- Tính chất của không gian và thời gian:
Không gian và thời gian tồn tại khách quan, vô tận và vô hạn.
5. Tính thống nhất của thế giới: (trọng tâm)
a. Những quan điểm khác nhau:
- Triết học duy tâm: thế giới thống nhất ở tính ý thức, tinh thần.
- Triết học duy vật cổ đại: thế giới thống nhất ở tính vật thể.
b. Quan điểm triết học Mác – Lênin:
Thế giới thống nhất ở tính vật chất của nó:
+ Chỉ có một thế giới duy nhất là thế giới vật chất tồn tại khách quan, độc lập với ý thức. Thế giới vật chất là vô tận, vô hạn, vô sinh, vô diệt. Trong thế giới đó, không có gì khác ngoài quá trình vật chất vận động, chuyển hoá lẫn nhau. Tất cả đều là nguyên nhân, đều là kết quả của nhau, đều là vật chất.
+ Mỗi lĩnh vực của thế giới đều là những dạng cụ thể của vật chất, có nguồn gốc vật chất, quan hệ vật chất, kết cấu vật chất và đều chịu sự chi phối bởi những quy luật chung, khách quan của thế giới vật chất.
Ý nghĩa:
Nguyên lý bản chất thế giới là vật chất, và thế giới thống nhất ở tính vật chất của nó, đòi hỏi con người trong hoạt động nhận thức và thực tiễn phải xuất phát từ hiện thực khách quan, lấy đó làm cơ sở, tiền đề, điều kiện cho hoạt động của mình.
II. Ý THỨC:
1. Phạm trù ý thức:
a. Những quan điểm khác nhau:
- Triết học duy tâm: ý thức là những cảm giác của con người hay chúa, thượng đế, thần linh, ý niệm, ý niệm tuyệt đối…
- Triết học duy vật trước Mác: ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan bởi bộ óc con người. Nhưng, sự phản ánh đó chỉ có tính thụ động, giản đơn, máy móc, nên chỉ đưa lại hình ảnh bề ngoài của sự vật, hiện tượng.
* Nhận xét:
Những quan điểm trên đều hiểu không đúng, không khoa học về phạm trù ý thức.
b. Quan điểm triết học Mác – Lênin:
Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.
2. Nguồn gốc của ý thức: (trọng tâm)
a. Những quan điểm khác nhau:
- Triết học duy tâm: ý thức là bản nguyên có tính độc lập, tự sinh ra và tồn tại ở đâu đó…
- Triết học duy vật trước Mác: ý thức là thuộc tính chung, phổ biến của mọi sự vật, nó không có bản chất riêng, đặc trưng riêng và cũng là một dạng nào đó của vật chất.
b. Triết học Mác – Lênin:
Ý thức ra đời từ hai nguồn gốc: tự nhiên và xã hội.
- Nguồn gốc tự nhiên:
+ Phải có bộ óc người.
+ Phải có thế giới khách quan.
* Chú ý:
Phải có sự tương tác giữa bộ óc người và thế giới khách quan thì ý thức mới có thể ra đời.
- Nguồn gốc xã hội:
+ Nhờ có lao động mà các giác quan và bộ óc của con người ngày càng phát triển. Từ đó, tạo điều kiện cho ý thức ra đời.
+ Nhờ có ngôn ngữ, con người không chỉ có chức năng trao đổi thông tin, tình cảm, mà còn là công cụ của tư duy, diễn đạt sự hiểu biết của con người, nó trở thành tín hiệu vật chất của ý thức.
* Chú ý:
Trong hai nguồn gốc tự nhiên và xã hội thì nguồn gốc xã hội có ý nghĩa quyết định sự ra đời của ý thức.
3. Bản chất của ý thức: (trọng tâm)
a. Định nghĩa:
Bản chất của ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan bởi óc người.
b. Phản ánh của óc người với hiện thực khách quan:
- Phản ánh có quy trình, theo trình tự ba giai đoạn:
+ Trao đổi thông tin giữa chủ thể và đối tượng, có chọn lọc và định hướng.
+ Mô hình hoá đối tượng trong tư duy.
+ Hiện thực hoá đối tượng trong hoạt động thực tiễn.
- Phản ánh mang tính chủ động, tích cực, sáng tạo. Nó không phản ánh y nguyên, mà phản ánh có chọn lọc, theo mục đích, yêu cầu, lợi ích của con người, có dự báo những khía cạnh mới, thuộc tính mới.
+ Phản ánh có sự kết hợp cả cảm giác lẫn tư duy; cả trực tiếp lẫn gián tiếp; cả hiện tại lẫn quá khứ và tương lai.
+ Phản ánh vừa có tính cụ thể hoá, vừa có tính khái quát hoá.
III. QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC: (trọng tâm)
1. Những quan điểm khác nhau:
- Chủ nghĩa duy tâm: ý thức có trước, vật chất có sau, nên trong mối quan hệ giữa chúng thì ý thức quyết định vật chất.
- Chủ nghĩa duy vật tầm thường: vật chất có trước, ý thức có sau, nên trong mối quan hệ giữa chúng, chỉ có vật chất quyết định ý thức và ý thức không có sự tác động trở lại vật chất.
2. Triết học Mác – Lênin:
Trong mối quan hệ giữa vật chất và ý thức thì vật chất quyết định ý thức và ý thức có sự tác động trở lại vật chất.
a. Vật chất quyết định ý thức:
- Vật chất là những tiền đề, cơ sở, nguồn gốc cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của ý thức.
- Điều kiện vật chất như thế nào thì ý thức như thế đó. Khi cơ sở vật chất, điều kiện vật chất thay đổi thì ý thức cũng thay đổi theo.
- Vật chất quyết định cả nội dung, bản chất và khuynh hướng vận động, phát triển của ý thức.
- Cơ sở vật chất, điều kiện vật chất là nơi hình thành nên các công cụ, phương tiện nối dài các giác quan của con người để nhận thức thế giới.
- Cơ sở vật chất, điều kiện vật chất, môi trường sống là nơi kiểm nghiệm nhận thức của con người, xác định nhận thức đúng, bác bỏ nhận thức sai.
b. Ý thức tác động trở lại vật chất:
- Ý thức phản ánh hiện thực khách quan vào óc con người, giúp con người hiểu được bản chất, quy luật vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng. Trên cơ sở đó, hình thành phương hướng, mục tiêu và những phương pháp, cách thức thực hiện phương hướng, mục tiêu đó.
- Trong hoạt động thực tiễn, sự vật bao giờ cũng bộc lộ nhiều khả năng. Nhờ ý thức, con người biết lựa chọn những khả năng thực tế, phù hợp mà thúc đẩy sự vật phát triển.
- Ý thức tự nó không thực hiện được gì hết, nên ý thức tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người.
* Chú ý:
Khi nói vai trò quyết định của ý thức đối với sự thành bại trong hoạt động thực tiễn thì cần hiểu theo hướng sau:
+ Chỉ xét sự vật, hiện tượng trong một giới hạn hết sức hạn hẹp: một trạng thái, một tình huống, một thời điểm… nhất định mà thôi.
+ Ý thức không được phép vượt ra khỏi hoàn cảnh khách quan, không được thay thế các yếu tố vật chất, mà chỉ là sự phát hiện và sử dụng có hiệu quả các yếu tố vật chất mà thôi.
+ Ý thức dù có năng động đến đâu, dù có vai trò to lớn đến đâu, xét đến cùng bao giờ nó cũng bị yếu tố vật chất quyết định.
3. Ý nghĩa phương pháp luận:
a. Từ nguyên lý vật chất quyết định ý thức:
- Trong hoạt động nhận thức, thực tiễn phải luôn tôn trọng hiện thực khách quan, quy luật khách quan. Nghĩa là: phái xuất phát từ điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội nhất định mà đề ra đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn, phù hợp, thúc đẩy lịch sử tiến lên.
- Chống quan điểm chủ quan duy ý chí, nôn nóng, vội vàng, vì tất yếu sẽ dẫn đến sai lầm trong hoạt động nhận thức và thất bại trong hoạt động thực tiễn.
- Chống tuyệt đối hoá vai trò quyết định của vật chất, vì sẽ rơi vào quan điểm duy vật tầm thường.
b. Từ nguyên lý ý thức tác động trở lại vật chất:
- Phải luôn luôn chú ý phát huy đầy đủ tính năng động, chủ quan, sự sáng tạo của con người trong việc nhận thức thế giới, cải tạo thế giới.
- Phải không ngừng bồi dưỡng nâng cao trình độ, tư tưởng, văn hoá, khoa học – kỹ thuật cho quãng đại quần chúng nhân dân, phải biết khơi dậy trong nhân dân lòng yêu nước, ý chí quật cường, phát huy tài trí của người Việt Nam, quyết tâm đưa nước nhà ra khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu.
- Chống tuyệt đối hoá vai trò tác động trở lại của ý thức, vì sẽ rơi vào quan điểm của chủ nghĩa duy tâm.












































ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG
Bài 2: NHỮNG NGUYÊN LÝ VÀ QUY LUẬT CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT.
Giáo viên: Trương Hoài Phương.

I. HAI NGUYÊN LÝ TỔNG QUÁT CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT:
(trọng tâm)
1. Mối liên hệ phổ biến:
- Quan điểm duy tâm, tôn giáo: thừa nhận có mối liên hệ phổ biến, nhưng nguồn gốc của nó là từ thần linh, thượng đế, “ý niệm tuyệt đối” sinh ra.
- Quan điểm siêu hình: không thừa nhận có mối liên hệ phổ biến. Sự vật, hiện tượng tồn tại một cách cô lập, tách rời; cái nào riêng ra cái đó, cái này bên cạnh cái kia, hết cái này đến cái kia, giữa chúng không có sự liên hệ, ràng buộc nhau.
- Triết học Mác – Lênin: thế giới có vô vàn các sự vật, hiện tượng, nhưng chúng lại thống nhất với nhau ở tính vật chất, nên tất yếu giữa chúng phải có mối liên hệ chằng chịt với nhau.
- Thuộc tính của mối liên hệ:
+ Tính khách quan: Mối liên hệ là cái vốn có của các sự vật, hiện tượng. Nó không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người hay thần linh, thượng đế. Chỉ có liên hệ với nhau, sự vật, hiện tượng mới tồn tại, vận động, phát triển.
+ Tính phổ biến:
Không phải chỉ có các sự vật, hiện tượng liên hệ với nhau, mà các yếu tố, bộ phận cấu thành sự vật, hiện tượng cũng liên hệ với nhau.
Không chỉ trong tự nhiên, mà cả trong xã hội lẫn trong tư duy, các sự vật hiện tượng cũng tác động qua lại lẫn nhau.
+ Tính đa dạng, muôn vẻ: Sự vật, hiện tượng có vô vàn mối liên hệ, mối liên hệ lại có vị trí, vai trò khác nhau trong sự tồn tại, phát triển của chúng. Có mối liên hệ bên trong, mối liên hệ bên ngoài; có mối liên hệ trực tiếp, mối liên hệ gián tiếp; có mối liên hệ tất nhiên, mối liên hệ ngẫu nhiên; có mối liên hệ cơ bản, mối liên hệ không cơ bản…
Ý nghĩa:
+ Nguyên lý mối liên hệ phổ biến có ý nghĩa quan trọng trong nhận thức, thực tiễn. Nó là cơ sở lý luận cho quan điểm toàn diện. Nguyên tắc này đòi hỏi: khi xem xét sự vật, hiện tượng phải xem xét các mặt, các mối liên hệ của nó, nhưng cũng phải biết được đâu là mối liên hệ cơ bản, chủ yếu, có như vậy mới nắm được bản chất sự vật, hiện tượng.
* Chú y:
Cần chống quan điểm phiến diện, chiết trung, nguỵ biện.
+ Vận dụng nguyên lý mối liên hệ phổ biến vào thực tiễn quan hệ đối ngoại, chúng ta chủ động thực hiện: “Chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế. Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực”.
2. Sự phát triển:
- Quan điểm siêu hình: phát triển của sự vật, hiện tượng chỉ là sự tăng giảm đơn thuần về lượng.
- Triết học Mác – Lênin:
+ Các sự vật, hiện tượng không những có mối liên hệ phổ biến, mà còn luôn vận động, phát triển không ngừng. Phát triển là khuynh hướng chung của thế giới.
+ Phát triển chỉ phản ánh một khuynh hướng vận động. Vận động đi lên từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoản thiện hơn.
- Tính chất của phát triển:
+ Tính phổ biến: Phát triển là khuynh hướng chung của thế giới có tính phổ biến, được thể hiện trên mọi lĩnh vực: tự nhiên, xã hội và tư duy.
+ Tính khách quan: Phát triển có nguyên nhân là do sự liên hệ, tác động qua lại giữa các mặt, các yếu tố bên trong của sự vật, hiện tượng, chứ không phải do bên ngoài áp đặt, hay do ý muốn chủ quan của con người quyết định.
Ý nghĩa:
Nguyên lý phát triển là khuynh hướng chung của thế giới có ý nghĩa quan trọng trong đời sống, trong nhận thức. Nó là cơ sở lý luận trực tiếp của nguyên tắc phương pháp luận phát triển:
+ Phải xem xét sự vật, hiện tượng theo hướng vận động đi lên, phát triển.
+ Trong hoạt động nhận thức, thực tiễn, không được thành kiến, định kiến khi xem xét, đánh giá con người và phong trào.
+ Phải luôn lạc quan, tin tưởng vào tương lai cách mạng, mặc dù trong thực tế có những thăng trầm, thậm chí thụt lùi, nhưng tất yếu cách mạng đi lên, cách mạng chiến thắng.
II. THẾ GIỚI VẬN ĐỘNG PHÁT TRIỂN THEO QUY LUẬT:
1. Phạm trù quy luật:
Quy luật là những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, bên trong, phổ biến, và được lặp đi lặp lại giữa các mặt, các yếu tố trong cùng một sự vật, hiện tượng, hay giữa các sự vật, hiện tượng cùng loại.
2. Quy luật tự nhiên và quy luật xã hội:
Quy luật tự nhiên diễn ra một cách tự động, tự phát, thông qua sự tác động của các lực lượng tự nhiên, không cần có sự tham gia của con người. Còn quy luật xã hội, được hình thành và tác động bao giờ cũng phải thông qua hoạt động của con người có ý thức, nhưng vẫn khách quan.
3. Tính khách quan của quy luật và vai trò của con người:
- Quy luật có tính khách quan, vì đó là những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, bên trong của các sự vật, hiện tượng trong thế giới.
- Quy luật có tính khách quan. Song, con người có thể chủ động phát hiện ra quy luật, nhận thức và vận dụng nó, nhằm phục vụ nhu cầu, lợi ích của mình.
III. NHỮNG QUY LUẬT CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT:
(trọng tâm)
1. Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (gọi tắt là quy luật mâu thuẫn):
a. Mâu thuẫn biện chứng:
Mâu thuẫn biện chứng là mâu thuẫn trong đó bao hàm sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập. Các mặt đối lập liên hệ với nhau, thâm nhập vào nhau, tác động qua lại lẫn nhau, làm tiền đề tồn tại cho nhau, nhưng lại bài trừ, phủ định lẫn nhau.
b. Những nội dung cơ bản của quy luật:
- Sự vật nào cũng là thể thống nhất của các mặt đối lập. Đó là thể thống nhất của những mâu thuẫn. Các mặt đối lập này nương tựa vào nhau, làm tiền đề tồn tại cho nhau. Không có mặt đối lập này thì cũng không có mặt đối lập kia và ngược lại.
- Các mặt đối lập trong mỗi sự vật vừa thống nhất, lại vừa đấu tranh. Sự đấu tranh của các mặt đối lập là sự tác động lẫn nhau, bài trừ phủ định nhau. Sự vật khác nhau thì phương thức đấu tranh cũng khác nhau. Sự đấu tranh của các mặt đối lập đưa đến sự chuyển hóa các mặt đối lập.
- Đấu tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực của sự phát triển. Bởi vì: sự vật là thể thống nhất của các mặt đối lập, chừng nào thể thống nhất này còn tồn tại thì sự vật còn tồn tại. Đấu tranh của các mặt đối lập làm cho thể thống nhất cũ bị phá vỡ, thể thống nhất mới được xác lập, sự vật phát triển.
- Đấu tranh là tuyệt đối, thống nhất là tương đối. Bởi vì: bất cứ sự thống nhất nào cũng là sự thống nhất có điều kiện, tạm thời, thoáng qua, gắn liền với đứng im tương đối của sự vật. Còn đấu tranh thì diễn ra liên tục không bao giờ ngừng, trong suốt quá trình tồn tại các mặt đối lập, từ đầu đến cuối.
c. Một số loại mâu thuẫn:
- Mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài:
Mâu thuẫn bên trong là mâu thuẫn giữa những mặt, những bộ phận bên trong sự vật. Còn mâu thuẫn bên ngoài là mâu thuẫn giữa sự vật này với sự vật kia.
- Mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản:
Mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn tồn tại trong suốt quá trình sự vật tồn tại. Nó quyết định bản chất và quá trình phát triển của sự vật. Còn mâu thuẫn không cơ bản là mâu thuẫn không giữ vị trí, vai trò quyết định bản chất sự vật và nó phụ thuộc vào mâu thuẫn cơ bản.
- Mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu:
Mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn nổi lên hàng đầu trong mỗi thời kỳ, giai đoạn của quá trình phát triển sự vật. Còn mâu thuẫn thứ yếu là mâu thuẫn không giữ vai trò quyết định tính chất, đặc điểm của sự vật trong thời kỳ, giai đoạn nhất định.
- Mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng:
Mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn giữa những lực lượng xã hội có` lợi ích căn bản đối lập nhau, không thể điều hoà. Còn mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân.
d. Vị trí, ý nghĩa phương pháp luận của quy luật:
- Vị trí:
Quy luật này vạch ra nguồn gốc, động lực của sự phát triển và là hạt nhân của phép biện chứng duy vật.
- Ý nghĩa phương pháp luận:
+ Mâu thuẫn là cái khách quan vốn có của sự vật, là nguồn gốc, động lực của sự phát triển. Do vậy, khi nghiên cứu sự vật phải nghiên cứu những mâu thuẫn của nó.
+ Sự vật khác nhau thì mâu thuẫn khác nhau và có vị trí, vai trò khác nhau. Nên khi nghiên cứu và giải quyết các mâu thuẫn phải có quan điểm lịch sử cụ thể, để có những phương pháp, cách thức cụ thể cho phù hợp.
+ Giải quyết mâu thuẫn theo phương thức đấu tranh các mặt đối lập, chứ không theo hướng dung hoà các mặt đối lập.
2. Quy luật những thay đổi dần dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và ngược lại (gọi tắt là quy luật lượng – chất):
a. Những nội dung cơ bản của quy luật:
- Mỗi sự vật, hiện tượng đều là thể thống nhất của hai mặt đối lập chất và lượng.
+ Chất của sự vật? Là tổng hợp những thuộc tính khách quan vốn có của nó, nói lên nó là cái gì, để phân biệt nó với cái khác.
+ Lượng của sự vật? Không nói lên sự vật đó là gì, mà chỉ nói lên con số của những thuộc tính cấu thành nó, như về: độ lớn (to – nhỏ), quy mô (lớn – bé), trình độ (cao – thấp), tốc độ (nhanh – chậm), màu sắc (đậm – nhạt)…
- Mối quan hệ biện chứng giữa lượng và chất:
+ Sự vật, hiện tượng bao giờ cũng là thể thống nhất của hai mặt đối lập lượng và chất. Lượng nào chất ấy, chất nào lượng ấy.
+ Sự thống nhất giữa lượng và chất, được thể hiện trong giới hạn nhất định gọi là “độ”. “Độ” là giới hạn trong đó có sự thống nhất giữa lượng và chất. Hay “độ” là giới hạn mà ở đó đã có sự biến đổi về lượng nhưng chưa có sự thay đổi về chất. Sự vật, nó còn là nó, nó chưa là cái khác.
+ Sự vật biến đổi khi chất lượng biến đổi. Chất biến đổi gọi là “nhảy vọt”. Nhảy vọt là bước ngoặt của sự thay đổi về lượng đưa đến sự thay đổi về chất. Nhảy vọt xảy ra tại “điểm nút”. Điểm nút là tột đỉnh của giới hạn, tại đó diễn ra sự nhảy vọt.
- Quy luật này có tính phổ biến, được thể hiện trong mọi lĩnh vực của thế giới: cả tự nhiên, xã hội và tư duy.
b. Những hình thức của bước nhảy vọt:
Trong thế giới, sự vật, hiện tượng là muôn vẻ, nên các bước nhảy cũng mang tính muôn vẻ: có bước nhảy diễn ra trong thời gian ngắn, đã làm thay đổi bản chất sự vật, gọi là nhảy vọt đột biến. Có bước nhảy diễn ra trong thời gian dài, thậm chí rất lâu dài, gọi là bước nhảy dần dần.
c. Vị trí, ý nghĩa phương pháp luận của quy luật:
- Vị trí:
Quy luật này vạch ra cách thức vận động, phát triển của sự vật.
- Ý nghĩa phương pháp luận:
+ Trong nhận thức, cũng như trong hoạt động thực tiễn cần phải khắc phục cả hai khuynh hướng tả khuynh và hữu khuynh.
+ Thực hiện những bước nhảy vọt, trong lĩnh vực đời sống xã hội phải chú ý cả điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan, xác định rõ quy mô, nhịp điệu của bước nhảy một cách khoa học, chống máy móc, giáo điều. Khi có tình thế, thời cơ thì kiên quyết tổ chức thực hiện bước nhảy để giành thắng lợi quyết định.
3. Quy luật phủ định của phủ định:
a. Phủ định biện chứng:
- Phủ định có hai loại: phủ định siêu hình và phủ định biện chứng.
+ Phủ định siêu hình? Là phủ định làm cho sự vật vận động thụt lùi, đi xuống, tan rã. Nghĩa là không tạo điều kiện cho sự phát triển.
+ Phủ định biện chứng? Là phủ định gắnm liền với sự vận động đi lên, vận động phát triển. Nghĩa là nó phải tại điều kiện cho sự phát triển.
- Đặc trưng của phủ định biện chứng:
+ Phủ định biện chứng là sự tự phủ định, do mâu thuẫn bên trong tạo ra.
+ Phủ định biện chứng là phủ định có sự kế thừa những yếu tố tích cực của sự vật cũ. Nhưng, không phải kế thừa tất cả, mà là kế thừa có chọn lọc.
+ Phủ định biện chứng là sự phủ định vô tận. Cái mới phủ định cái cũ, nhưng rồi cái mới không phải mới mãi mãi, nó sẽ cũ đi và bị cái mới khác phủ định, không có lần phủ định nào là phủ định cuối cùng.
Ý nghĩa:
Phủ định biện chứng có ý nghĩa quan trọng. Nó đòi hỏi phải tôn trọng tính khách quan trong sự phủ định, chống chủ quan duy ý chí. Trong hoạt động thực tiễn, chống tả khuynh, phủ định sạch trơn, chống hữu khuynh kế thừa tất cả những di sản của xã hội cũ.
b. Những nội dung cơ bản của quy luật:
- Tính chu kỳ của sự phát triển:
+ Sự vật nào vận động phát triển cũng có tính chu kỳ. Những sự vật khác nhau thì chu kỳ, nhịp điệu vận động phát triển dài, ngắn khác nhau.
+ Chu kỳ của sự phát triển là từ một điểm xuất phát, trải qua một số lần phủ định, sự vật dường như quay trở lại điểm xuất phát, nhưng trên cơ sở cao hơn.
- Số lần phủ định đối với mỗi chu kỳ của từng sự vật cụ thể, có thể khác nhau. Nhưng khái quát lại vẫn chỉ có hai lần phủ định cơ bản trái ngược nhau mà thôi.
Ý nghĩa:
Nguyên lý tính chu kỳ của sự phát triển cho ta ý nghĩa phương pháp luận quan trọng. Nếu nắm được chu kỳ phát triển của sự vật, tất yếu dự báo được tương lai của nó.
- Khuynh hướng của sự phát triển:
Phép biện chứng duy vật thừa nhận vận động phát triển đi lên là xu hướng chung của thế giới, nhưng không diễn ra theo đường thẳng, mà diễn ra theo đường “xoáy ốc” quanh co phức tạp.
c. Vị trí, ý nghĩa phương pháp luận của quy luật:
- Vị trí:
Quy luật này vạch ra khuynh hướng vận động, phát triển của sự vật.

- Ý nghĩa phương pháp luận:
+ Khi xem xét sự vận động phát triển của sự vật, phải xem xét nó trong quan hệ đối lập: cái mới ra đời từ cái cũ, cái tiến bộ ra đời từ cái lạc hậu, cái phủ định ra đời từ cái khẳng định. Có như vậy mới thấy được những nhân tố tích cực ở cái cũ, mà cái mới cần phải kế thừa trong sự phát triển đi lên.
+ Sự phát triển diễn ra theo đường “xoáy ốc”, do vậy phải kiên trì, chờ đợi, không được nôn nóng, vội vàng. Nhưng phải theo hướng bênh vực cái mới, ủng hộ cái mới, hợp quy luật nhất định chiến thắng.
+ Trong quá trình cách mạng xã hội, sẽ có những bước thăng trầm, thậm chí thụt lùi, hoặc thoái trào cũng là tất nhiên, nhưng cuối cùng cách mạng vẫn đi lên, cách mạng chiến thắng. Từ đó, tin tưởng chủ nghĩa xã hội nhất định sẽ trở thành hiện thực ở nước ta và nhiều nước trên thế giới.





















































ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG
BÀI 4: NHẬN THỨC LUẬN KHOA HỌC VÀ HOẠT ĐỘNG THỰC TIỄN CỦA CON NGƯỜI.
Giáo viên: Trương Hoài Phương.
I. BẢN CHẤT CỦA NHẬN THỨC: (trọng tâm)
1. Những quan điểm khác nhau:
- Thuyết hoài nghi và thuyết bất khả tri: thường hoài nghi và phủ nhận khả năng nhận thức đúng đắn của con người về thế giới. Họ cho rằng: con người chỉ nhận thức được những hiện tượng bề ngoài của thế giới, không có khả năng nhận thức được bản chất của nó.
- Chủ nghĩa duy tâm khách quan: thừa nhận nhận thức là quá trình biện chứng, nhưng đó là quá trình “tự nhận thức” của “ý niệm tuyệt đối”.
- Chủ nghĩa duy tâm chủ quan: nhận thức chỉ là “sự tổng hợp của những cảm giác”.
- Chủ nghĩa duy vật trước Mác: thừa nhận khả năng nhận thức của con người về thế giới, nhưng không xem nhận thức là quá trình biện chứng, mà chỉ là quá trình phản ánh giản đơn, có tính chất máy móc, siêu hình.
2. Quan điểm triết học Mác-Lênin về bản chất của nhận thức:
- Bản chất của nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào trong đầu óc con người. Nhưng đó không phải là sự phản ánh giản đơn, thụ động, mà là sự phản ánh chủ động, tích cực, sáng tạo của chủ thể trước khách thể.
+ Chủ thể nhận thức là con người.
+ Khách thể nhận thức là hiện thực khách quan, nằm trong phạm vi hoạt động của con người.
- Nhận thức là sự phản ánh của chủ thể đối với khách thể.
+ Không có sự vật hiện tượng nào trong thế giới khách quan mà con người không thể biết được. Chỉ có cái con người đã biết và chưa biết. Nhưng những cái chưa biết thì sẽ biết trong tương lai gần và xa.
+ Nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan, nhưng đó không phải là sự thụ động, tức thì, mà là sự phản ánh chủ động, tích cực, sáng tạo. Sự phản ánh đó là quá trình biện chứng: từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, từ nông đến sâu, từ hiện tượng đến bản chất.
+ Nhận thức không chỉ phản ánh những cái đã và đang tồn tại, mà còn phản ánh những cái sẽ tồn tại.
+ Nhận thức không chỉ giải thích thế giới, mà còn cải tạo thế giới.
II. THỰC TIỄN VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI NHẬN THỨC: (trọng tâm)
1. Phạm trù thực tiễn:
- Trước Mác, một số nhà triết học cũng đã bàn đến phạm trù thực tiễn, nhưng hiểu nó chưa đầy đủ, cũng như không hiểu đúng được vai trò của thực tiễn đối với nhận thức.
- Triết học duy tâm khách quan, cho thực tiễn chỉ là khái niệm thực tiễn, tư tưởng thực tiễn, chứ không nói về bản thân thực tiễn, với tư cách là hoạt động vật chất.
- Triết học Mác-Lênin, cho rằng:
+ Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có tính chất lịch sử – xã hội của con người, nhằm cải tạo thế giới khách quan.
+ Hoạt động thực tiễn có ba hình thức cơ bản, đó là: hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị – xã hội và hoạt động quan sát thực nghiệm khoa học.
2. Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức:
a. Thực tiễn là cơ sở, nguồn gốc của nhận thức:
- Mọi nhận thức cuả con người, xét đến cùng đều có nguồn gốc từ thực tiễn. Thực tiễn cung cấp những tài liệu hiện thực, khách quan làm cơ sở để con người nhận thức. Bằng hoạt động thực tiễn, con người tác động vào thế giới khách quan, bắt đối tượng bộc lộ ra những đặc trưng, thuộc tính, những quy luật vận động, phát triển, để con người nhận thức, qua đó làm cho nhận thức không ngừng được nâng cao.
- Thông qua hoạt động thực tiễn, con người đã sáng tạo ra những công cụ, phương tiện ngày càng tinh xảo hơn để nhận thức thế giới.
- Thông qua hoạt động thực tiễn, các giác quan con người ngày càng phát triển, ngôn ngữ ngày càng phong phú, hình thành cả một hệ thống khái niệm, phạm trù và thường xuyên được bổ sung, đổi mới… tạo điều kiện cho con người nhận thức thế giới ngày càng sâu rộng hơn.
b. Thực tiễn là động lực và mục đích của nhận thức:
- Thực tiễn là động lực của nhận thức:
+ Thực tiễn thường xuyên vận động, phát triển, nên nó luôn đặt ra những nhu cầu, nhiệm vụ, phương hướng mới cho nhận thức.
+ Chính thực tiễn thúc đẩy sự ra đời và phát triển mạnh mẽ các ngành khoa học tự nhiên và xã hội.
- Thực tiễn là mục đích của nhận thức:
+ Hoạt động của con người bao giờ cũng có mục đích, phương hướng, biện pháp. Mục đích, phương hướng, biện pháp là kết quả của quá trình nhận thức.
+ Mục đích nhận thức của con người không phải chỉ để nhận thức, mà suy đến cùng là để cải tạo hiện thực, cải tạo thế giới, theo nhu cầu, lợi ích của con người.
c. Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý:
- Chân lý? Là những tri thức của con người phù hợp với hiện thực khách quan, đã được thực tiễn kiểm nghiệm.
- Chỉ có thực tiễn mới là tiêu chuẩn của chân lý, vì thực tiễn cao hơn nhận thức, nó vừa có tính hiện thực trực tiếp, lại vừa có tính phổ biến.
- Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, vừa có tính tuyệt đối lại vừa có tính tương đối. Bởi vì: Thực tiễn là cái duy nhất làm tiêu chuẩn của chân lý, ngoài nó ra không có cái nào khác có thể làm tiêu chuẩn cho chân lý được. Tuy nhiên, thực tiễn ngay một lúc, không thể khẳng định được cái đúng, bác bỏ cái sai một cách tức thì. Nó không cho phép người ta hiểu biết bất kỳ một cái gì hoá thành chân lý vĩnh viễn, bất biến.
III. HAI GIAI ĐOẠN CỦA QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC: (trọng tâm)
Quá trình nhận thức của con người, có hai giai đoạn: trực quan sinh động và tư duy trừu tượng.
1. Trực quan sinh động (nhận thức cảm tính):
Trực quan sinh động là giai đoạn đầu của quá trình nhận thức. Nó phản ánh trực tiếp hiện thực khách quan bằng các giác quan, diễn ra qua các hình thức cơ bản, kế tiếp nhau: cảm giác, tri giác, biểu tượng.
- Cảm giác? Là hình thức đầu tiên của sự phản ánh hiện thực, là kết quả sự tác động của sự vật vào giác quan con người. Nó chỉ phản ánh được những mặt, những thuộc tính riêng lẻ của sự vật.
- Tri giác? Là sự tổng hợp nhiều thuộc tính khác nhau của sự vật do cảm giác đem lại.
- Biểu tượng? Là hình ảnh về sự vật được tái hiện trong đầu một cách khái quát, khi không còn tri giác trực tiếp với sự vật. Nó chỉ giữ lại những nét chung về bề ngoài của sự vật.
* Nhận xét:
Đặc điểm chung của giai đoạn nhận thức cảm tính là: sự phản ánh có tính chất hiện thực trực tiếp, không thông qua khâu trung gian. Tuy phong phú, sinh động, nhưng đó chỉ là sự phản ánh bề ngoài, hiện tượng của sự vật, chưa phản ánh được mặt bản chất, tất yếu bên trong của sự vật.
2. Tư duy trừu tượng (nhận thức lý tính):
Tư duy trừu tượng là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, dựa trên cơ sở tài liệu do trực quan sinh động đưa lại. Tư duy trừu tượng được biểu hiện dưới các hình thức cơ bản: khái niệm, phán đoán, suy lý.
- Khái niệm? Là một hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng. Nó phản ánh cái chung, bản chất, tất yếu của sự vật. Dựa trên cơ sở những tài liệu cảm tính, trải qua quá trình phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hoá, trừu tượng hoá… khái niệm được hình thành.
- Phán đoán? Là một hình thức của tư duy trừu tượng, dựa trên sự liên kết, vận dụng những khái niệm đã có, nhằm khẳng định hay phủ định một hay nhiều thuộc tính sự vật. Mỗi phán đoán được biểu đạt bằng một “mệnh đề” nhất định.
- Suy lý? Là hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng, dựa trên cơ sở những phán đoán đã được xác lập, và những mối liên hệ có tính quy luật của những phán đoán đó, để đi đến những phán đoán mới có tính chất kết luận.
* Nhận xét:
Đặc điểm chung của giai đoạn nhận thức lý tính là: tuy không phản ánh trực tiếp hiện thực khách quan, nhưng đó là sự phản ánh trừu tượng, khái quát, vạch ra bản chất, quy luật của sự vật.
3. Sự thống nhất biện chứng giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính:
- Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính là hai giai đoạn của một quá trình nhận thức. Tuy chúng có sự khác nhau về vị trí, mức độ và phạm vi phản ánh, nhưng có liên hệ mật thiết tác động qua lại lẫn nhau.
- Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính là hai giai đoạn của quá trình nhận thức, nhưng xét đến cùng, đều bắt nguồn từ thực tiễn, đều lấy sự vật, hiện tượng làm đối tượng, nội dung phản ánh. Giữa chúng có liên hệ mật thiết với nhau.
+ Nhận thức cảm tính là tiền đề, điều kiện của nhận thức lý tính. Nhận thức lý tính không thể thực hiện được gì hết, nếu thiếu tri thức và tài liệu của nhận thức cảm tính đưa lại.
+ Nhận thức lý tính sau khi đã hình thành thì tác động trở lại nhận thức cảm tính, làm cho nó nhận thức nhạy bén hơn, chính xác hơn trong quá trình phản ánh hiện thực.
* Tóm lại:
Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng trở về thực tiễn, là con đường biện chứng cuả nhận thức chân lý khách quan. Trong đó, thực tiễn vừa là tiền đề xuất phát, vừa là điểm kết thúc cuả một vòng khâu, một quá trình nhận thức. Nhưng kết thúc vòng khâu này thì lại là điểm khởi đầu của vòng khâu khác cao hơn. Đó là quá trình vô tận, liên tục của sự nhận thức chân lý khách quan.
IV. CHÂN LÝ:
1. Khái niệm chân lý:
Chân lý là những tri thức của con người, phù hợp với hiện thực khách quan đã được thực tiễn kiểm nghiệm.
2. Một số đặc trưng của chân lý:
a. Tính khách quan:
Chân lý tuy là nhận thức của con người nhưng nội dung của nó là hiện thực khách quan, không lệ thuộc vào con người.
b. Tính cụ the:
Không có chân lý chung chung, trừu tượng, đúng cho mọi điều kiện, hoàn cảnh, mà chỉ có chân lý cụ thể, xác định, gắn với điều kiện, hoàn cảnh, gắn với không gian, thời gian cụ thể.
c. Tính tương đối và tính tuyệt đối:
Chân lý tuyệt đối: Là những tri thức của con người phản ánh đúng hiện thực khách quan nhưng chưa đầy đủ, chưa toàn diện, chưa bao quát hết mọi mặt của hiện thực khách quan và luôn bị chế ước bởi những điều kiện lịch sử.
V. QUAN HỆ GIỮA ĐỔI MỚI NHẬN THỨC VỚI ĐỔI MỚI XÃ HỘI Ở NƯỚC TA:
1. Thực tiễn cách mạng đòi hỏi đổi mới nhận thức:
Nghiên cứu trong Giáo trình Chính trị trang 43 – 44.
2. Nội dung và phương hướng đổi mới nhận thức:
Nghiên cứu trong Giáo trình Chính trị trang 44 – 45.
3. Phải làm gì để đổi mới nhận thức:
- Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, học tập lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là hệ tư tưởng và là kim chỉ nam cho mọi hoạt động cuả chúng ta. Biết vận dụng nó vào đời sống, giải quyết những vấn đề mà thực tiễn đặt ra một cách đúng đắn, sáng tạo.
- Biết kế thừa và phát triển những di sản tư tưởng, lý luận cuả Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta, coi đó là những thành quả giá trị về sự vận dụng sáng tạo lý luận Mác-Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam.
- Tiếp thu có chọn lọc những thành tựu lý luận, những kinh nghiệm thành công và không thành công cuả các Đảng, các nước anh em, những giá trị văn hoá, những tri thức khoa học – kỹ thuật của nhân loại và thời đại.
- Thường xuyên tổng kết những kinh nghiệm thực tiễn cuả cách mạng nước ta, nâng lên thành lý luận.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho việc đổi mới nhận thức, tạo ra bầu không khí dân chủ trong đời sống tinh thần, tranh luận khoa học nhằm đi đến chân lý; mở rộng thông tin nhiều chiều, phong phú, chính xác, kịp thời. Kiên quyết đấu tranh chống khuynh hướng, tư tưởng bảo thủ trì trệ, những nhận thức, suy nghĩ thủ cựu. Đồng thời cũng đấu tranh chống mọi sự nôn nóng, cực đoan, thiếu thận trọng, thiếu trách nhiệm trong nhận thức và hoạt động thực tiễn.
- Đổi mới nhận thức để có nhận thức đúng đắn, khoa học, làm cơ sở hướng dẫn thực tiễn, thúc đẩy xã hội ta phát triển đúng hướng, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh lịch sử, phù hợp với thời đại và trung thành với lý tưởng xã hội chủ nghiã cuả chúng ta.
- Với thành tựu to lớn cuả 20 năm qua, chứng tỏ đường lối đổi mới cuả Đảng ta là đúng đắn và sáng tạo và phù hợp với thực tiễn Việt Nam.

























ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG
Bài 7: LĨNH VỰC KINH TẾ CỦA ĐỜI SỐNG XÃ HỘI. NHỮNG QUY LUẬT CƠ BẢN CỦA SỰ VẬN ĐỘNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA XÃ HỘI.
Giáo viên: Trương Hoài Phương.
I. LĨNH VỰC KINH TẾ CỦA ĐỜI SỐNG XÃ HỘI:
1. Sản xuất ra của cải vật chất là yêu cầu khách quan của sự tồn tại và phát triển xã hội:
a. Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật siêu hình về lịch sư:
- Chủ nghĩa duy tâm chủ quan: nguyên nhân và động lực của sự phát triển xã hội thuộc về tư tưởng của những vĩ nhân.
- Chủ nghĩa duy tâm khách quan: nguyên nhân và động lực của sự phát triển xã hội thuộc về các lực lượng siêu tự nhiên chi phối.
- Chủ nghĩa duy vật siêu hình: tôn giáo là lực lượng chính của sự phát triển lịch sử, là căn cứ để phân biệt các thời kỳ lịch sử.
b. Quan điểm của triết học Mác – Lênin:
Sản xuất ra của cải vật chất là yêu cầu khách quan của sự tồn tại và phát triển xã hội.
2. Cấu trúc và vai trò của phương thức sản xuất:
a. Cấu trúc của phương thức sản xuất:
- Phương thức sản xuất? Là cách thức tiến hành sản xuất của cải vật chất trong một giai đoạn nhất định của lịch sử.
- Mỗi phương thức sản xuất bao gồm hai mặt cấu thành là lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
+ Lực lượng sản xuất? Là mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên, là trình độ chinh phục tự nhiên của con người, là mặt tự nhiên của phương thức sản xuất. Lực lượng sản xuất bao gồm: tư liệu sản xuất và người lao động với trình độ kỹ năng và thói quen trong lao động của họ.
+ Quan hệ sản xuất? Là mối quan hệ giữa con người với người trong quá trình sản xuất, là mặt xã hội của phương thức sản xuất. Quan hệ sản xuất bao gồm: quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ trong tổ chức, quản lý, phân công lao động và quan hệ trong phân phối sản phẩm lao động.
b. Vai trò của phương thức sản xuất:
- Phương thức sản xuất quyết định tính chất của xã hội.
- Phương thức sản xuất quyết định tổ chức kết cấu của xã hội.
- Phương thức sản xuất quyết định sự chuyển hoá của xã hội loài người qua các giai đoạn lịch sử khác nhau.
II. NHỮNG QUY LUẬT CƠ BẢN CỦA SỰ VẬN ĐỘNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA XÃ HỘI: (trọng tâm)
1. Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất:
a. Khái niệm về tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất:
- Tính chất của lực lượng sản xuất? Là tính chất cá nhân hay tính chất xã hội trong việc sử dụng tư liệu lao động, mà chủ yếu là công cụ lao động của con người để chế tạo sản phẩm.
+ Nếu công cụ lao động chỉ cần một người sử dụng cũng có thể tiến hành sản xuất được thì tính chất của lực luộng sản xuất là tính chất cá nhân.
+ Nếu công cụ lao động là những máy móc cơ khí liên hoàn, đòi hỏi nhiều người cùng sử dụng mới tạo ra một sản phẩm hoàn chỉnh thì tính chất của lực lượng sản xuất là tính chất xã hội.
- Trình độ của lực lượng sản xuất? Là trình độ phát triển khoa học công nghệ, khoa học kỹ thuật, công cụ lao động, phân công lao động và người lao động. Trong đó, phân công lao động và đi liền với nó là trình độ chuyên môn hoá là sự biểu hiện rõ ràng nhất.
b. Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất:
Trong mỗi phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất gắn bó hữu cơ với nhau. Trong đó, lực lượng sản xuất là nội dung vật chất – kỹ thuật và quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của phương thức sản xuất. Do đó, trong mối quan hệ này thì lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất; và quan hệ sản xuất có sự tác động trở lại lực lượng sản xuất.
- Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất:
+ Lực lượng sản xuất như thế nào về tính chất và trình độ thì nó đòi hỏi quan hệ sản xuất phải như thế ấy để đảm bảo sự phù hợp.
+ Khi lực lượng sản xuất đã thay đổi về tính chất và trình độ thì quan hệ sản xuất cũng phải thay đổi theo để đảm bảo sự phù hợp.
+ Khi lực lượng sản xuất cũ mất đi, lực lượng sản xuất mới ra đời thì quan hệ sản xuất cũ cũng phải mất đi và quan hệ sản xuất mới phải ra đời để đảm bảo sự phù hợp.
- Quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất:
+ Nếu quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất thì nó thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.
+ Nếu quan hệ sản xuất không phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất thì nó sẽ kìm hãm, thậm chí phá vỡ lực lượng sản xuất.
* Chú ý:
Một quan hệ sản xuất được gọi là phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất khi nó tạo ra những tiền đề, những điều kiện cho các yếu tố của lực lượng sản xuất kết hợp với nhau một cách hài hoà để cho sản xuất diễn ra bình thường và đưa lại năng suất lao động cao.
Sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất không phải chỉ thực hiện một lần là xong, mà phải là một quá trình, một “cân bằng động”. Nghĩa là một sự phù hợp- cụ thể nào đó giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất luôn luôn bị phá vỡ để thay bằng một sự phù hợp khác cao hơn.
c. Sự vận dụng quy luật này trong đường lối đổi mới của Đảng ta:
- Đặc điểm nước ta: Xuất phát từ một nước nông nghiệp lạc hậu, tự cung, tự cấp đi lên chủ nghĩa xã hội, lại do hậu quả nặng nề của các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc ác liệt và lâu dài, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là hoàn toàn mới, chưa hề có tiền lệ trong lịch sử.
- Sai lầm, khuyết điểm đã mắc phải: Thời kỳ đầu chúng ta đã chủ quan duy ý chí, bất chấp quy luật khách quan: nóng vội xoá bỏ các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, tập thể khi nó còn lý do tồn tại, đề cao, mở rộng quan hệ sản xuất tập thể khi nó chưa có đầy đủ những tất yếu kinh tế.
- Đảng ta vận dụng quy luật:
+ Để khắc phục những thiếu xót và sai lầm trong thời kỳ trước đây, Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
+ Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thành phần kinh tế nhà nước phải vươn lên giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân.
2. Quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng:
a. Khái niệm về cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng:
- Cơ sở hạ tầng? Là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một hình thái kinh tế – xã hội nhất định.
- Kiến trúc thượng tầng? Là toàn bộ những quan điểm, tư tưởng (chính trị, pháp quyền, đạo đức, nghệ thuật, tôn giáo, triết học…) và những thiết chế tương ứng (nhà nước, đảng phái, giáo hội, các tổ chức quần chúng…) được hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định và phản ánh cơ sở hạ tầng đó.
b. Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng:
- Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng:
+ Cơ sở hạ tầng như thế nào thì kiến trúc thượng tầng dựng trên nó phải như thế ấy để đảm bảo sự tương ứng.
+ Khi cơ sở hạ tầng biến đổi thì nó đòi hỏi kiến trúc thượng tầng cũng biến đổi theo để đảm bảo sự tương ứng.
+ Khi cơ sở hạ tầng cũ mất đi, cơ sở hạ tầng mới ra đời thì sớm muộn kiến trúc thượng tầng cũ cũng mất đi và kiến trúc thượng tầng mới cũng ra đời theo để đảm bảo sự tương ứng.
- Kiến trúc thượng tầng tác động trở lại cơ sở hạ tầng:
+ Nếu là kiến trúc thượng tầng tiên tiến thì nó tác động cùng chiều với sự vận động của những quy luật kinh tế khách quan; trong trường hợp này nó sẽ thúc đẩy cơ sở hạ tầng phát triển.
+ Nếu là kiến trúc thượng tầng bảo thủ, lạc hậu thì nó sẽ tác động ngược chiều với sự vận động của những quy luật kinh tế khách quan, khi đó, nó kìm hãm sự phát triển của cơ sở hạ tầng.
* Chú ý:
Trong bất kỳ tình huống nào, kiến trúc thượng tầng cũng ra sức bảo vệ cơ sở hạ tầng đã sinh ra nó, kể cả cơ sở hạ tầng tiến bộ và cả khi cơ sở hạ tầng đã phản tiến bộ, cản trở sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Mỗi bộ phận của kiến trúc thượng tầng tác động trở lại cơ sở hạ tầng theo những hình thức và hiệu lực khác nhau, trong đó nhà nước là bộ phận có vai trò quan trọng nhất và có hiệu lực mạnh mẽ nhất.
c. Sự vận dụng mối quan hệ này của Đảng ta trong đường lối đổi mới:
- Xây dựng cơ sở hạ tầng theo quan điểm đổi mới của Đảng ta là nhằm tạo ra một cơ sở hạ tầng không thuần nhất với nhiều kiểu quan hệ sản xuất khác nhau. Các loại quan hệ sản xuất đó vừa cạnh tranh, vừa liên hợp, liên kết với nhau để cùng phát triển. Song, tất cả đều phải vận động theo định hướng cùng đi lên chủ nghĩa xã hội.
- Muốn hướng các thành phần kinh tế đi ttheo mục đích chung thì bên cạnh những tác động phi kinh tế của kiến trúc thượng tầng phải có sự tác động quyết định của những yếu tố kinh tế. Đó là, vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước.
- Trên nền tảng cơ sở hạ tầngđã được xác định mà kiến trúc thượng tầng tương ứng với nó hình thành:
+ Hệ thống chính trị – xã họi của nước ta phải mang bản chất giai cấp công nhân, tức là Đảng Cộng sản Việt Nam là người lãnh đạo duy nhất, lấy học thuyết Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng chính trị và kim chỉ nam cho mọi hoạt động, biến hệ tư tưởng chính trị thành hệ tư tưởng chủ đạo trong đời sống tinh thần của nhân dân ta.
+ Mỗi bộ phận trong hệ thống chính trị có nhiệm vụ và chức năng riêng, có phương thức hoạt động riêng, song phải đoàn kết, hợp tác để đi tới mục tiêu chung là chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội.












































ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG
BÀI 8: CẤU TRÚC XÃ HỘI: GIAI CẤP VÀ CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ – XÃ HỘI.
Giáo viên: Trương Hoài Phương.

I. KHÁI NIỆM VỀ CẤU TRÚC XÃ HỘI VÀ HAI LOẠI CẤU TRÚC XÃ HỘI:
1. Khái niệm về cấu trúc xã hội:
Cấu trúc xã hội là sự sắp xếp, mối quan hệ và cơ chế vận hành của các bộ phận, các yếu tố trong một hình thái kinh tế – xã hội nhất định, trong đó phương thức sản xuất là cơ sở, là nền tảng của cấu trúc.
2. Cấu trúc xã hội phi giai cấp:
- Phương thức sản xuất là quan hệ sở hữu tập thể về tư liệu sản xuất và sản phẩm làm ra, dựa trên một trình độ thấp kém của lực lượng sản xuất.
- Hình thái tổ chức xã hội là cộng đồng thị tộc, bộ lạc hay liên minh bộ lạc chủ yếu dựa trên quan hệ huyết thống.
- Mỗi cộng đồng tự đặt ra quy tắc chung mà những quy tắc này được hình thành từ phong tục, tập quán, từ những kinh nghiệm lâu đời trong quá trình sống và lao động chung được mọi người tự nguyện tuân theo.
- Trong xã hội đó, mọi người đều bình đẳng, chưa có giai cấp, chưa có cơ quan cưỡng chế tác khỏi nhân . các chức vụ trong cộng đồng do toàn thể các thành viên bầu ra dựa trên uy tín, tài đức, kinh nghiệm và sự cống hiến của người đó.
2. Cấu trúc xã hội có giai cấp:
- Nguyên nhân xuất hiện giai cấp:
+ Sự phát triển của lực lượng sản xuất, của cải làm ra ngoài phần tiêu dùng hàng ngày còn có phần dư thừa, tạo khả năng khách quan để có người chiếm đoạt của dư đó khi có điều kiện.
+ Sự phân công lao động xã hội phát triển: trồng trọt tách khỏi chăn nuôi, nghề thủ công tách khỏi trồng trọt, lao động trí óc hình thành và tách khỏi lao động chân tay…
- Cấu trúc xã hội có giai cấp có những đặc trưng sau:
+ Phương thức sản xuất: là quan hệ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất dựa trên sự phát triển cao dần lên của lực lượng sản xuất.
+ Hình thái tổ chức xã hội: là các tổ chức chính trị – xã hội dựa trên quan hệ nòng cốt là quan hệ giai cấp. Các tổ chức chính trị – xã hội như: đảng phái, nhà nước, giáo hội… đều mang đậm tính giai cấp. Trong đó, các giai cấp thống trị, bóc lột là giai cấp chi phối và chủ động lập ra nó để điều hành xã hội phục vụ cho lợi ích giai cấp mình.
+ Quan hệ giữa người và người: là quan hệ thống trị và bị trị, bóc lột và bị bóc lột. Các hình thức thống trị và bóc lột ngày càng tàn bạo và tinh vi.
II. GIAI CẤP VÀ ĐẤU TRANH GIAI CẤP: (trọng tâm)
1. Vấn đề giai cấp:
a. Định nghĩa giai cấp:
“Người ta gọi là giai cấp, những tập đoàn người to lớn gồm những người khác nhau về địa vị của họ trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử, khác nhau về quan hệ của họ (thường thường thì những quan hệ này được pháp luật quy định và thừa nhận) đối với tư liệu sản xuất, về vai trò của họ trong tổ chức lao động xã hội, và như vậy là khác nhau về cách thức hưởng thụ phần của cải vật chất ít hay nhiều mà họ được hưởng. Giai cấp là những tập đoàn người mà tập đoàn này thì có thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn khác, do chỗ các tập đoàn có địa vị khác nhau trong một chế độ kinh tế - xã hội nhất định”.
b. Đặc trưng giai cấp:
- Giai cấp là những tập đoàn người có địa vị khác nhau trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định.
- Các giai cấp có mối quan hệ khác nhau đối với tư liệu sản xuất.
- Các giai cấp có vai trò khác nhau trong tổ chức lao động xã hội.
- Các giai cấp có sự khác nhau về phương thức và quy mô thu nhập của cải xã hội.
* Chú y:
Bốn đặc trưng trên có quan hệ mật thiết với nhau, trong đó đặc trưng về sở hữu tư liệu sản xuất là quyết định nhất.
Ý nghĩa của định nghĩa:
Định nghĩa giai cấp của Lênin có giá trị cả về lý luận và thực tiễn, nội dung không những nói lên được nguồn gốc phát sinh giai cấp mà còn là cơ sở để xác định kết cấu giai cấp trong một hình thái kinh tế – xã hội nhất định.
c. Kết cấu giai cấp:
- Giai cấp cơ bản: là những giai cấp xuất hiện và tồn tại gắn với phương thức sản xuất thống trị.
- Giai cấp không cơ bản: là những giai cấp xuất hiện và tồn tại gắn với những phương thức sản xuất không phải là thống trị, bao gồm phương thức sản xuất tàn dư của xã hội cũ và phương thức sản xuất mầm mống của xã hội tương lai.
- Ngoài giai cấp cơ bản và không cơ bản, trong mỗi hình thái kinh tế – xã hội còn có những tầng lớp xã hội như: tầng lớp trí thức, tiểu tư sản, tiểu thương, tiểu chủ…
2. Vấn đề đấu tranh giai cấp:
a. Định nghĩa đấu tranh giai cấp:
“Đấu tranh giai cấp là đấu tranh của một bộ phận nhân dân này chống một bộ phận khác, cuộc đấu tranh của quần chúng bị tước hết quyền, bị áp bức và lao động chống bọn có đặc quyền, đặc lợi, bọn áp bức và ăn bám, cuộc đấu tranh của những người công nhân làm thuê hay những người vô sản chống những người hữu sản hay giai cấp tư sản”.
b. Vai trò của đấu tranh giai cấp:
Trong xã hội có giai cấp đối kháng thì đấu tranh giai cấp là động lực cơ bản và trực tiếp của sự phát triển xã hội.
- Trong phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất là yếu tố động và cách mạng hơn quan hệ sản xuất, tức là giữa hai mặt của phương thức sản xuất luôn luôn có mâu thuẫn. Mâu thuẫn giai cấp tất yếu dẫn tới đấu tranh giai cấp, đấu tranh giai cấp phát triển tới đỉnh cao dẫn tới cách mạng xã hội, thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới, mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển, thay thế hình thái kinh tế – xã hội cũ bằng hình thái kinh tế – xã hội mới.
- Ngay cả thời kỳ chưa diễn ra cách mạng xã hội thì đấu tranh giai cấp cũng ảnh hưởng tới sự phát triển của lực lượng sản xuất nói riêng và cả xã hội nói chung.
- Cuộc đấu tranh của giai cấp bị trị đã buộc giai cấp thống trị phải tiến hành những cải cách mang tính chất tiến bộ. Đồng thời, bản thân giai cấp cách mạng cũng tự cải tạo, tự đổi mới mình trong thực tiễn đấu tranh. Không những thế, nó cũng tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của văn hoá, nghệ thuật, khoa học và các mặt khác của đời sống xã hội. Do đó, đấu tranh giai cấp không chỉ là động lực phát triển của xã hội có đối kháng giai cấp mà còn là động lực phát triển của xã hội nói chung.
c. Đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản:
- Giai cấp vô sản là trung tâm, đại biểu cho xu hướng phát triển của thời đại ngày nay:
+ Mục tiêu, lý tưởng của giai cấp vô sản là xây dựng chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạn đầu của nó là chủ nghĩa xã hội.
+ Giai cấp vô sản có hệ tư tưởng Mác-Lênin, hệ tư tưởng chính trị khoa học và tiên tiến nhất trong thời đại ngày nay và có bộ tham mưu vĩ đại là Đảng cộng sản lãnh đạo.
- Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản khi chưa giành được chính quyền:
+ Hình thức đấu tranh kinh tế: là hình thức đấu tranh đầu tiên của giai cấp vô sản. Lúc đầu chỉ mang tính chất tự phát.
+ Hình thức đấu tranh chính trị: là hình thức cao của đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản, với mục tiêu là vấn đề chính quyền: Đập tan chính quyền của giai cấp tư sản và thiết lập chính quyền của giai cấp vô sản.
+ Hình thức đấu tranh tư tưởng: là hình thức đấu tranh thường được tiến hành khi có Đảng Cộng sản ra đời, với mục đích là: giáo dục cho giai cấp vô sản và quần chúng thấy rõ vai trò, sứ mệnh lịch sử vĩ đại của mình.
- Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản khi đã giành được chính quyền:
+ Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội vẫn còn là một tất yếu:
Giai cấp tư sản tuy đã bị đánh đổ nhưng chưa bị tiêu diệt, thậm chí còn rất mạnh trên nhiều lĩnh vực như: tư tưởng, chính trị, kinh tế và mối quan hệ quốc tế. Do đó, nó chống đối gay gắt hòng giành lại thiên đường đã mất.
Trong một thời gian dài, sau khi giai cấp vô sản giành được chính quyền, những cơ sở để nảy sinh giai cấp bóc lột và sự phân chia giai cấp nói chung vẫn còn tồn tại.
Những tư tưởng, tâm lý, tập quán bảo thủ, lạc hậu của các giai cấp cũ chưa bị quét sạch, vẫn còn ảnh hưởng lâu dài trong đời sống của đông đảo quần chúng nhân dân .
Bọn đế quốc và các thế lực thù địch phản động vẫn luôn tìm mọi cách phá hoại, can thiệp bằng nhiều thủ đoạn khác nhau và gần đây là âm mưu thâm độc “diễn biến hoà bình” nhằm xoá bỏ thành quả của cách mạng xã hội chủ nghĩa.
+ Cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản diễn ra trong thời kỳ quá độ có nhiều vấn đề mới:
Điều kiện mới: Điều kiện mới quan trọng nhất là sự thay đổi căn bản vị trí xã hội của giai cấp vô sản. Giờ đây họ đã là giai cấp lãnh đạo xã hội, chủ động tổ chức mọi hoạt động của xã hội trên quy mô rộng lớn, có điều kiện tiếp thu và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm phát triển xã hội theo hệ tư tưởng Mác-Lênin.
Nội dung mới: Nội dung cuộc đấu tranh giai cấp chuyển từ vấn đề giành chính quyền sang giữ chính quyền và dùng chính quyền làm công cụ để tổ chức xây dựng xã hội mới như: Thiết lập hệ thống chính trị do Đảng Cộng sản lãnh đạo, trấn áp kẻ thù đối lập, giáo dục quần chúng nhân dân tổ chức kiểu sản xuất xã hội có năng suất cao hơn hẳn chủ nghĩa tư bản…
Hình thức mới: Hình thức đấu tranh được sử dụng một cách tổng hợp: có đổ máu và không đổ máu, có bạo lực và hoà bình, bằng quân sự và kinh tế, bằng giáo dục và hành chính… Cuộc đấu tranh đó cho phép và có điều kiện diễn ra trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hoá, tư tưởng…
* Liên hệ ở nước ta hiện nay:
- Ở nước ta, cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản diễn ra vẫn còn gay gắt để giải quyết vấn đề “ai thắng ai” giữa hai con đường.
+ Đặc điểm lớn nhất của nước ta là từ sản xuất nhỏ, nông nghiệp lạc hậu, tự cung, tự cấp, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa.
+ Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta vừa phải tuân theo những quy luật chung, vừa bị chi phối bởi những quy luật đặc thù.
- Nội dung chủ yếu của đấu tranh giai cấp trong giai đoạn hiện nay là: Thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục tình trạng nước nghèo, kém phát triển; thực hiện công bằng xã hội, chống áp bức, bất công; đấu tranh ngăn chặn và khắc phục những tư tưởng và hành động tiêu cực, sai trái; đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch, bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng nước ta thành một nước xã hội phồn vinh, nhân dân hạnh phúc.
III. NHÀ NƯỚC: (trọng tâm)
1. Nguồn gốc, bản chất, đặc trưng và chức năng của nhà nước:
a. Nguồn gốc nhà nước:
- Nhà nước là một hiện tượng lịch sử, nghĩa là nó chỉ xuất hiện và tồn tại trong một giai đoạn nhất định của xã hội loài người.
- Nhà nước chỉ ra đời khi xã hội có sự phân chia giai cấp, mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp không thể điều hoà.
b. Bản chất của nhà nước:
- Nhà nước là một kiểu thiết chế chính trị của xã hội có giai cấp, là bộ máy quyền lực của giai cấp thống trị để quản lý mọi mặt của xã hội nhằm bảo vệ lợi ích và địa vị cho giai cấp mình. Nhà nước bao giờ cũng là của một giai cấp nhất định.
- Nhà nước là một thiết chế của kiến trúc thượng tầng, là bộ phận cơ bản nhất của hệ thống chính trị, bao gồm bộ máy quan liêu, quân đội, nhà tù, cảnh sát do giai cấp thống trị tổ chức ra để thực hiện quyền lực chính trị và lợi ích kinh tế của giai cấp mình.
c. Đặc trưng của nhà nước:
- Sự phân chia dân cư theo lãnh thổ cư trú. Quyền lực nhà nước tác động đến mọi thành viên trong biên giới quốc gia bất kể họ thuộc huyết thống nào.
- Sự thiết lập một quyền lực công cộng như: những đội vũ trang đặc biệt (quân đội, cảnh sát, tình báo…), những công cụ (toà án, trại giam, nhà tù…) và những phương tiện khác để bắt buộc giai cấp bị trị và toàn xã hội phải phục tùng.
- Thực hiện chế độ thuế khóa, một chế độ đóng góp có tính chất cưỡng bức về kinh tế đối với xã hội để nuôi sống bộ máy cai trị.
d. Chức năng của nhà nước:
- Chức năng đối nội: giai cấp thống trị sử dụng công cụ bạo lực và bộ máy nhà nước để duy trì trật tự về kinh tế, chính trị, xã hội, tư tưởng và trấn áp các giai cấp phản kháng để bảo vệ lợi ích kinh tế, địa vị chính trị của giai cấp mình.
- Chức năng đối ngoại: giải quyết các mối quan hệ với các quốc gia khác như: chống xâm lược để bảo vệ lãnh thổ hoặc xâm lược để mở rộng lãnh thổ; thiết lập các quan hệ trao đổi kinh tế, văn hoá, khoa học… để phát triển đất nước.
2. Nhà nước xã hội chủ nghĩa và nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam:
a. Nhà nước xã hội chủ nghĩa:
Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước kiểu mới, nhà nước không nguyên nghĩa, là nhà nước “nửa nhà nước”.
- Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước của giai cấp công nhân. Song, do vị trí, đặc điểm của giai cấp này nên nhà nước đại diện cho lợi ích của đa số nhân dân lao động, chống lại một thiểu số bọn bóc lột và các thế lực thù địch đã bị đánh đổ nhưng chưa bị tiêu diệt.
- Nhà nước xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản tổ chức và lãnh đạo, lấy học thuyết Mác-Lênin làm hệ tư tưởng chính trị, dựa trên khối liên minh công nông và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động.
- Nhà nước xã hội chủ nghĩa vừa trấn áp bằng bạo lực đối với bọn phản cách mạng, vừa tổ chức xây dựng xã hội mới; vừa thực hiện hành chính cưỡng chế, vừa trực tiếp quản lý các quá trình phát triển kinh tế của đất nước.
- Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước quá độ để đi tới sự tiêu vong của nhà nước.
b. Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam:
- Nhà nước của ta cũng có đầy đủ những đặc điểm của nhà nước xã hội chủ nghĩa như đã nêu trên.
- Để tiến vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Đảng ta đã đề ra ba chủ trương lớn trong việc xây dựng nhà nước là:
+ Tiếp tục phát huy tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân qua các hình thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp…
+ Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch vững mạnh…
+ Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước, xây dựng và hoàn thiện nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước.
- Đại hội X nhấn mạnh: “Xây dựng cơ chế vận hành của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các quy định trong văn bản luật. Xây dựng và hoàn thiện thể chế giám sát, kiểm tra tính hợp hiến và hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền”.












ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG
Bài 9: CON NGƯỜI, NHÂN CÁCH, MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁ NHÂN VÀ XÃ HỘI.
Giáo viên: Trương Hoài Phương.
I. BẢN CHẤT CON NGƯỜI: (trọng tâm)
1. Khái niệm về con người:
Từ góc độ triết học, người ta đưa ra định nghĩa: Con người là một thực thể sinh học – xã hội, luôn giữ vai trò chủ thể trong mọi hoạt động.
- Với tính cách là một thực thể sinh học, cơ thể con người luôn chịu sự quy định của những quy luật sinh học để tồn tại và phát triển. Về mặt này giữa các cá nhân không có sự bình đẳng.
- Với tính cách là thực thể xã hội, con người trong quá trình tồn tại đã có những sinh hoạt cộng đồng như lao động, giao tiếp, thông qua đó mà một hệ thống quan hệ xã hội được thiết lập. Nhờ những quan hệ xã hội đó mà con người sinh học bật lên trở thành con người văn hoá.
* Chú ý:
Trong hai mặt sinh học và xã hội của thực thể con người thì mặt sinh học là điều kiện cần, còn mặt xã hội là điều kiện đủ. Do đó, con người luôn giữ vai tró chủ thể trong mọi hoạt động.
2. Bản chất con người:
- Chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo: Bản chất con người do những lực lượng siêu tự nhiên chi phối như: “ý niệm”, “ý niệm tuyệt đối”, chúa, thượng đế…
- Chủ nghĩa duy vật siêu hình, tầm thường: giải thích bản chất con người một cách phiến diện, tuyệt đối hoá mặt này hay mặt kia của con người.
- Triết học Mác – Lênin:
C.Mác: Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội.
+ Khi nói tổng hoà, tức không phải một tổng số giản đơn các quan hệ xã hội, mà chúng có sự tương tác lẫn nhau và cùng tác động tổng hợp vào con người để hình thành nên bản chất.
+ Khi nhấn mạnh mặt quan hệ xã hội là mặt chủ đạo, C.Mác không có ý xem nhẹ mặt sinh học của con người, mà xác định mối quan hệ biện chứng giữa hai mặt đó. Nghĩa là trong cái tổng hoà ấy có cả quan hệ với xã hội và có cả quan hệ với tự nhiên, có cả con người xã hội và con người sinh vật.
+ Bản chất con người không cố định, bất biến mà vận động, phát triển cùng với xã hội, phụ thuộc vào bản chất mỗi hình thái kinh tế – xã hội.
II. NHÂN CÁCH:
1. Khái niệm và cấu trúc nhân cách:
a. Khái niệm nhân cách:
- Chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo: quan niệm có tính người bẩm sinh, nhân cách là yếu tố tinh thần đầu tiên của tồn tại người hay chúa là nhân cách tối cao nhất có trước và chi phối nhân cách con người.
- Chủ nghĩa duy vật ngoài mácxít và các khoa học cụ thể thường có xu hướng tuyệt đối hoá mặt tâm lý, sinh lý, xem nhẹ mặt xã hội hay tách rời mặt xã hội và mặt tự nhiên của nhân cách.
- Nhiều ngành khoa học nghiên cứu về nhân cách đã đưa ra một quan điểm tổng hợp và đúng đắn về nhân cách: Nhân cách là tổ hợp thái độ, thuộc tính riêng trong quan hệ hành động của từng người với giới tự nhiên, với xã hội và bản thân.
b. Cấu trúc của nhân cách:
- Hạt nhân của nhân cách là thế giới quan của cá nhân, đó là toàn bộ những quan điểm, lý tưởng, niềm tin, định hướng giá trị chung của cá nhân.
- Không gian bên trong của nhân cách là những năng lực và phẩm chất xã hội của cá nhân như: thể chất, năng lực trí tuệ, trình độ chuyên môn, các phẩm chất chính trị, pháp luật, đạo đức, thẩm mỹ…
- Bộ phận sâu kín và nhạy cảm nhất của nhân cách là tâm hồn con người, nó là tầng sâu, là tập mờ của nhân cách, là nơi lắng đọng và tiềm ẩn của mỗi cá nhân. Đó là thế giới nội tâm có chức năng làm tăng thêm hay giảm nhẹ, kiềm chế hay thúc đẩy hành vi của mỗi người.
2. Những tiền đề và quá trình hình thành nhân cách của con người mới xã hội chủ nghĩa Việt Nam: (trọng tâm)
a. Những tiền đề:
- Tiền đề vật chất:
+ Trước hết, nhân cách phải được dựa trên cơ sở sinh học, tức là một con người có sự phát triển đầy đủ, không khiếm khuyết về cơ thể, giác quan và tư duy. Song, đây chỉ là điều kiện cần cho sự sự phát triển nhân cách của cá nhân.
+ Tiền đề vật chất đóng vai trò là điều kiện đủ chính là mội trường xã hội, đó là gia đình và xã hội với những truyền thống, những giá trị văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần.
* Chú ý:
Mối quan hệ giữa nhân cách và môi trường xã hội không phải là một chiều mà là quan hệ biện chứng: mỗi cá nhân, một mặt, tiếp nhận sự tác động của môi trường xã hội một cách tích cực, có cải biến, lọc bỏ, kế thừa và chuyển hoá để biến thành cái bên trong của mình; mặt khác, thông qua hoạt động tích cực của mỗi cá nhân lại tác động trở lại môi trường xã hội.
- Tiền đề tư tưởng và giáo dục:
+ Nòng cốt là Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đó là những lý luận và tư tưởng vừa có tính khoa học, vừa có tính cách mạng, vừa thấm đậm chủ nghĩa nhân văn cao cả.
+ Sự hình thành nhân cách nói chung và nhân cách xã hội chủ nghĩa nói riêng diễn ra trong cả đời người, trong đó giáo dục và tự giáo dục có vai trò đặc biệt quan trọng, nhất là với lứa tuổi trẻ.
b. Quá trình hình thành nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa Việt Nam:
- Phải từng bước tạo lập những tiền đề cho sự hình thành nhân cách xã hội chủ nghĩa Việt Nam: tiền đề vật chất là nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tiền đề tư tưởng là chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và tiền đề giáo dục là cải cách hệ thống giáo dục quốc dân, nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
- Mô hình nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa Việt Nam la mô hình động. Trong thời kỳ quá độ hiện nay, mô hình đó là:
+ Tự giác nâng cao trình độ lý luận Mác – Lênin để hình thành thế giới quan khoa học và phương pháp luận biện chứng.
+ Hăng say học tập, nâng cao trình độ văn hoá, chuyên môn để có năng lực thật sự trong công việc, để có sáng kiến, cải tiến công tác đưa đến năng suất, hiệu quả cao.
+ Không ngừng nâng cao đạo đức, lối sống trên cơ sở những chuẩn mực giá trị mới đã và đang hình thành trong xã hội.












ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG
Bài 10: Ý THỨC XÃ HỘI. ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA CON NGƯỜI.
Giáo viên: Trương Hoài Phương.

I. NỘI DUNG, BẢN CHẤT VÀ TÍNH ĐỘC LẬP TƯƠNG ĐỐI CỦA Ý THỨC XÃ HỘI: (trọng tâm)
1. Ý thức xã hội là sự phản ánh tồn tại xã hội:
- Tồn tại xã hội? Là toàn bộ những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội, bao gồm: điều kiện địa lý tự nhiên; dân số, mật độ dân số và phương thức sản xuất. Trong đó, phương thức sản xuất có vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển của tồn tại xã hội.
- Ý thức xã hội? Là toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội, là kết quả của sự phản ánh của ý thức con người đối với một tồn tại xã hội nhất định.
- Ý thức xã hội bao gồm hai cấp độ phản ánh khác nhau: tâm lý xã hội và hệ tư tưởng.
+ Tâm lý xã hội? Là các hiện tượng ý thức như: tình cảm, tâm trạng, thói quen, ước muốn, động cơ, thái độ và những xu hướng tâm lý của các nhóm người khác nhau được hình thành một cách tự phát trên cơ sở những điều kiện sinh sống hàng ngày của con người.
+ Hệ tư tưởng? Là những quan điểm, tư tưởng, những học thuyết, lý thuyết về kinh tế, chính trị, pháp quyền, đạo đức, tôn giáo, khoa học, nghệ thuật… phản ánh và bảo vệ lợi ích của một giai cấp nhất định trong xã hội.
* Chú y:
Tâm lý xã hội và hệ tư tưởng đều là lĩnh vực tinh thần, đều bắt nguồn từ tồn tại xã hội có sự tác động qua lại, song không có quan hệ phát sinh.
2. Tính giai cấp của ý thức xã hội trong xã hội có giai cấp:
- Trong xã hội có sự phân chia giai cấp thì ý thức xã hội của mỗi giai cấp là sự phản ánh lợi ích, địa vị xã hội và những điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp đó. Do đó, trong xã hội có giai cấp thì ý thức xã hội có tính giai cấp, tức là mỗi giai cấp có ý thức riêng của mình.
- Trong xã hội có giai cấp, ý thức của giai cấp thống trị là ý thức thống trị, nó không những chi phối về kinh tế mà còn chi phối cả về chính trị.
- Ý thức xã hội thường tồn tại thông qua những cá nhân, do đó có cái gọi là ý thức cá nhân. Ý thức cá nhân phong phú, đa dạng hơn ý thức giai cấp, bởi vì không những nó phản ánh lợi ích của giai cấp, phản ánh những điều kiện tồn tại chung của một quốc gia, của thời đại mà còn phản ánh hoàn cảnh sinh sống riêng của mỗi cá nhân. Do đó, trong thực tế, có những ý thức cá nhân mâu thuẫn với ý thức giai cấp và lợi ích giai cấp của mình.
3. Ý thức dân tộc:
- Mỗi dân tộc có một ý thức riêng do sự khác nhau về kinh tế, địa lý, ngôn ngữ, văn hoá và truyền thống dân tộc được kết tinh lâu dài trong lịch sử.
- Trong xã hội có giai cấp thì ý thức dân tộc và ý thức giai cấp có quan hệ hữu cơ, tác động qua lại nhau.
+ Khi giai cấp thống trị ở thời kỳ tiến bộ, ý thức giai cấp của họ không những phản ánh, bảo vệ lợi ích của giai cấp mình mà còn phản ánh và bảo vệ lợi ích của dân tộc.
+ Khi giai cấp thống trị đã trở thành lạc hậu, lỗi thời thì ý thức giai cấp của họ thường mâu thuẫn với ý thức dân tộc và có thể dẫn tới phản lại lợi ích dân tộc.
4. Tính độc lập tương đối và sức mạnh cải tạo của ý thức xã hội:
- Ý thức xã hội là sự phản ánh tồn tại xã hội nhưng không phản ánh giản đơn, máy móc, thụ động mà có tính độc lập tương đối.
+ Ý thức xã hội thường lạc hậu, bảo thủ hơn so với tồn tại xã hội. Nghĩa là, khi một tồn tại xã hội nào đó đã bị xoá bỏ nhưng ý thức xã hội phản ánh nó chưa mất theo ngay, mà còn tồn tại trong một thời gian, thậm chí có những bộ phận ý thức tồn tại khá lâu dài.
+ Một bộ phận ý thức xã hội có khả năng vượt trước tồn tại xã hội để dự báo một tương lai. Đó là, bộ phận ý thức tiên tiến, khoa học phản ánh đúng đắn những quy luật phát triển của xã hội và nguyện vọng, lợi ích chính đáng của đông đảo quần chúng nhân dân.
+ Ý thức xã họi có tính kế thừa những tinh hoa và những giá tri tinh thần cao đẹp của truyền thống dân tộc và nhân loại để làm phong phú đời sống tinh thần của con người hiện tại. Sự kế thừa này nhìn chung là có tính chất chọn lọc và cải biến để phù hợp với dân tộc và thời đại.
- Ý thức xã hội có tính độc lập tương đối, nên nó thường phản ánh tồn tại xã hội một cách chủ động, sáng tạo, tự giác và tác động trở lại tồn tại xã hội theo hai khuynh hướng.
+ Nếu ý thức xã hội có tính chất bảo thủ, lạc hậu, nó thường tác động theo hướng cản trở, thậm chí phá hoại sự phát triển xã hội.
+ Nếu ý thức xã hội có tính tiến bộ, khoa học nó thường tác động theo hướng thúc đẩy xã hội phát triển.
Ý nghĩa thực tiễn:
+ Cần phê phán triệt để những quan điểm tư tưởng sai lầm như: phủ nhận lịch sử, quay lưng lại quá khứ, khước từ mở cửa, hoặc nhập siêu thời đại một cách ồ ạt, không có sự chọn lọc.
+ Để từng bước tạo ra ý thức xã hội tiên tiến, khoa học, Đảng ta đã đề ra đường lối cách mạng đúng đắn ngay từ đầu và trong suốt các đại hội Đảng. Trong đường lối chung, thì đường lối văn hoá, tư tưởng luôn luôn là một trong những bộ phận đứng song song và ngang hàng với đường lối của các lĩnh vực khác.